Làm thuê hay làm chủ? – Kỳ cuối: Làm chủ chuỗi giá trị
6 kỳ trước đã lần lượt phơi bày bức tranh: Việt Nam xuất khẩu hàng trăm tỉ đô la nhưng phần giá trị giữ lại rất mỏng; doanh nghiệp nội kẹt ở vai trò gia công; một số cái tên bắt đầu làm chủ; người tiêu dùng nội địa hóa ra là quỹ R&D thầm lặng; và giấc mơ vươn thương hiệu ra thế giới cần chiến lược 4P “phiên bản Việt”. Tất cả mới chỉ là phác họa.
Kỳ 6: Vượt trần thị trường: Đưa thương hiệu Việt ra đấu trường quốc tế
Hôm nay, kỳ cuối nỗ lực đặt ra bản lộ trình cụ thể: làm chủ chuỗi giá trị phải bắt đầu từ đâu, ai làm, cần điều kiện gì, thước đo nào và thời hạn ra sao. Mục tiêu không phải vẽ thêm khát vọng mà là nối những mảnh rời thành một khung hành động thực tế cho mười lăm năm kế tiếp.
Vì sao “chuỗi giá trị” chứ không phải “nhà máy”
Ở thế kỷ trước, năng lực sản xuất quyết định sức mạnh quốc gia. Sang thế kỷ hai mươi mốt, sản xuất chỉ còn là một khâu, thường bị thuê ngoài. Giá trị cao nhất tập trung tại bốn điểm: nghiên cứu, thiết kế, thương hiệu và hệ thống phân phối kèm dịch vụ.
Apple không sở hữu hầu hết nhà máy. Họ kiểm soát iOS, chip và trải nghiệm người dùng. Nike không dệt sợi nhưng nắm khâu thiết kế, quảng cáo, quản lý chuỗi cửa hàng. Starbucks không trồng cà phê nhưng định nghĩa văn hóa cà phê toàn cầu. Đó chính là làm chủ chuỗi giá trị: biết chọn điểm chốt mang lại biên lợi nhuận lớn và khả năng đàm phán cao.
Việt Nam hiện sở hữu nhiều nhà máy nhất Đông Nam Á nhưng mới nắm điểm tạo giá trị thấp nhất là lao động và đất đai. Nếu không dịch chuyển lên trên, lợi nhuận sẽ vẫn thuộc tập đoàn ngoại còn rủi ro môi trường, sức khỏe thuộc về chúng ta.
Phân mảnh chuỗi giá trị để định vị Việt Nam đang ở đâu
Chuỗi giá trị bất kỳ sản phẩm tiêu dùng lớn thường gồm 8 khâu chính.
| Khâu | Mô tả | Tình trạng Việt Nam | Biên lợi nhuận bình quân |
|---|---|---|---|
| Ý tưởng – nghiên cứu thị trường | Xác định nhu cầu, xu hướng, khoảng trống | Rất ít công ty nội có ngân sách nghiên cứu nghiêm túc, chủ yếu dựa cảm tính | 15 – 20 % |
| R&D công nghệ | Phát triển vật liệu, thuật toán, công thức, phần mềm lõi | Chi ngân sách R&D toàn quốc ~0,5 % GDP, kém xa Hàn Quốc 4,8 % | 25 – 30 % |
| Thiết kế sản phẩm | Thiết kế ngoại hình, trải nghiệm, bao bì | Một số thương hiệu nội có bước tiến (VinFast, Coolmate) | 20 – 25 % |
| Cung ứng linh kiện | Chuỗi phụ trợ, bán thành phẩm | Tỉ lệ nội địa hóa điện tử dưới 15 %, thực phẩm chế biến cao hơn 60 % | 10 – 15 % |
| Sản xuất – lắp ráp | Nhà máy, lao động, logistics nội bộ | Việt Nam mạnh nhất khâu này nhờ nhân công trẻ | 4 – 8 % |
| Thương hiệu – marketing | Xây dựng câu chuyện, định vị giá, truyền thông | Đa số doanh nghiệp nội chi <5 % doanh thu cho thương hiệu | 25 – 35 % |
| Phân phối – bán lẻ | Kênh siêu thị, sàn thương mại điện tử, cửa hàng | Bán lẻ hiện đại mới chiếm 30 % tổng thị trường, kênh thuộc nước ngoài | 10 – 20 % |
| Dịch vụ hậu mãi – dữ liệu | Bảo hành, CRM, phân tích dữ liệu | Mới nổi ở một số công ty SaaS trong nước | 15 – 30 % |
Điểm lợi nhuận rõ ràng lệch hẳn về đầu và cuối chuỗi. Việt Nam hiện tập trung tuyệt đại thời gian vào khâu giữa: sản xuất.
Bốn trụ cột: ai làm gì trong hành trình làm chủ
1. Doanh nghiệp
- Nâng ngân sách R&D tối thiểu đạt 2 % doanh thu năm 2030 và 5 % năm 2035.
- Đặt mục tiêu nắm sở hữu trí tuệ cốt lõi (bằng sáng chế, bản quyền thiết kế, công thức).
- Thiết lập đội ngũ “thương hiệu và trải nghiệm” ngang tầm bộ phận sản xuất.
- Dữ liệu khách hàng phải được xem là tài sản chiến lược, không giao trọn cho sàn quốc tế.
2. Chính sách
- Chính phủ ban hành “Luật khuyến khích giá trị gia tăng nội địa” với ba cơ chế: tín dụng ưu đãi đặc biệt cho R&D, thuế thu nhập doanh nghiệp giảm tối đa 50 % cho phần lợi nhuận đến từ sở hữu trí tuệ nội; quỹ đồng tài trợ thiết kế và thương hiệu.
- Thành lập “Quỹ xúc tiến thương hiệu quốc gia” quy mô 1 tỉ USD trong năm năm, đồng chi trả 50 % chi phí bảo hộ nhãn hiệu, tham gia hội chợ quốc tế, mở showroom nước ngoài.
- Rút ngắn thời gian đăng ký sáng chế từ 36 tháng xuống 18 tháng; hỗ trợ nộp hồ sơ PCT để bảo hộ toàn cầu.
3. Người tiêu dùng
- Chấp nhận trả cao hơn 5 – 10 % cho sản phẩm nội địa chứng minh được chất lượng tương đương.
- Đánh giá công khai, góp ý có trách nhiệm, lan tỏa câu chuyện thật thay vì khẩu hiệu.
- Ưu tiên chuỗi cà phê, siêu thị, sàn thương mại điện tử nội địa để giữ dữ liệu và lợi nhuận trong nước.
4. Truyền thông và giáo dục
- Giáo dục phổ thông bổ sung kỹ năng sáng tạo, thiết kế, sở hữu trí tuệ ngay từ cấp hai.
- Báo chí chuyên ngành phải dựa dữ liệu, tránh tung hô nhất thời; phanh phui hàng kém chất lượng nội để tăng sức ép cải tiến.
- Kết nối chuyên gia Việt kiều, viện nghiên cứu, startup, trường đại học thành mạng lưới mentoring.
3 mốc thời gian hiện thực hóa lộ trình 15 năm
1. Giai đoạn 2025 – 2030: Xây móng nội địa
- Thúc đẩy tỉ lệ giá trị giả tăng nội địa điện tử từ 15 % lên 30 %, thực phẩm chế biến từ 60 % lên 75 %.
- Hỗ trợ 500 doanh nghiệp vừa và nhỏ xây dựng phòng R&D; 100 thương hiệu đạt chuẩn xuất khẩu cao cấp.
- Lao động kỹ thuật cao đạt 40 % lực lượng lao động ngành chế biến chế tạo (hiện 26 %).
2. Giai đoạn 2030 – 2035: Làm chủ khu vực
- Ít nhất hai thương hiệu Việt lọt top 10 ASEAN về giá trị thương hiệu.
- Việt Nam nắm 25 % thị trường phần mềm dịch vụ trong ASEAN; logistics nội địa đứng thứ ba khu vực về năng lực.
- Hoàn thành mạng lưới kho lạnh và kho ngoại quan tại Singapore, Thái Lan và Trung Đông phục vụ nông sản Việt.
3. Giai đoạn 2035–2040: Tham gia chuỗi giá trị toàn cầu ở tầng cao
- Ra mắt tối thiểu một sản phẩm công nghệ lõi – ví dụ chip AI – mang nhãn “Made by Vietnam”.
- Số doanh nghiệp có bằng sáng chế quốc tế tăng gấp mười lần so với 2024.
- Thương hiệu quốc gia Việt Nam được Brand Finance định giá vượt 1.000 tỉ USD, xếp trong top 25 thế giới.
Học gì từ người đi trước
Hàn Quốc mất bốn mươi năm để chuyển từ lắp ráp sang làm chủ công nghệ. Chìa khóa nằm ở chaebol được bảo hộ có điều kiện: phải xuất khẩu thành công hoặc mất ưu đãi. Đài Loan chọn chiến lược “tập trung siêu hẹp” vào bán dẫn; Israel dồn toàn lực vào R&D với mức chi 4,5 % GDP, xếp thứ nhất thế giới.
Điểm chung: chính phủ đóng vai người dọn đường, doanh nghiệp đóng vai vận động viên, còn người dân là khán giả trả tiền vé đầu tiên bằng cách mua sản phẩm nội.
Không chọn cũng là một lựa chọn
Toàn cầu hóa đang bước vào giai đoạn cạnh tranh chuỗi giá trị khốc liệt. Nếu Việt Nam tiếp tục tận dụng lợi thế nhân công rẻ mà không leo lên tầng cao hơn, vòng đời ưu đãi sẽ khép lại khi nhân khẩu học già đi, môi trường cạn kiệt và lương tối thiểu không còn rẻ.
Làm chủ chuỗi giá trị không dễ, nhưng là con đường duy nhất để Việt Nam tránh bẫy thu nhập trung bình, vươn lên xếp hạng quốc gia phát triển. Không thể đợi ai giúp. Không thể lặp lại sai lầm kiếm tiền nhanh từ tài nguyên hay bất động sản.
Ngày hôm nay, từng doanh nghiệp, từng nhà hoạch định và từng người tiêu dùng phải tự hỏi: mình sẽ ở tầng nào trong chuỗi giá trị?
Không chọn cũng là một lựa chọn. Và đó thường là lựa chọn bị chọn thay.



















